Thứ sáu, 9/7/2010
Công bố Luật An toàn thực phẩm
Sáng ngày 08/7/2010 tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước công bố Lệnh số 06/2010/ L-CTN ngày 28 tháng 6 năm 2010, của Chủ tịch nước về việc công bố Luật An toàn thực phẩm, đã được Quốc hội nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010.
Luật An toàn thực phẩm được ban hành là sự kiện quan trọng thể hiện được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong giai đoạn tới, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.
Chương I- những quy định chung gồm 6 điều từ Điều 1 đến Điều 6, nhằm làm rõ khái niệm, từ đó giúp người đọc có cách hiểu chung thống nhất về các quy phạm được quy định trong Luật.
Chương II- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm ATTP gồm 3 điều, từ Điều 7 đến Điều 9. Chương này quy định về quyền và nghĩa vụ đối với an toàn thực phẩm của 3 nhóm đối tượng chính, đó là: tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm.
Chương III- Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm gồm 9 điều, từ Điều 10 đến Điều 18. Đây là một chương hoàn toàn mới so với Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chương IV- Điều kiện bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm gồm 15 điều, từ Điều 19 đến Điều 33. Chương này quy định riêng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ và giao Bộ chuyên ngành quy định điều kiện cho từng loại hình cho phù hợp và khả thi. Đây là điểm khác biệt so với Pháp lệnh VSATTP.
Chương V- Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm gồm 4 điều, từ Điều 34 đến Điều 37. Điểm khác biệt của Chương này so với Pháp lệnh VSATTP là Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm có thời hạn là 3 năm, theo Pháp lệnh VSATTP thì Giấy này không có thời hạn.
Chương VI- Xuất khẩu và Nhập khẩu thực phẩm gồm 5 điều, từ Điều 38 đến Điều 42.
Chương VII- Quảng cáo và ghi nhãn thực phẩm gồm 2 điều, từ Điều 43 đến Điều 44. Đưa ra các quy định về nội dung quảng cáo thực phẩm, đồng thời phải thông báo nội dung quảng cáo trước khi được quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền về y tế kiểm tra và xác nhận…
Chương VIII-Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với ATTP, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP gồm 11 điều từ Điều 45 đến Điều 55. Chương trình phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, đây là nội dung hoàn toàn mới so với Pháp lệnh VSATTP bao gồm: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ. Chương này quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn.
Chương IX. Thông tin, giáo dục truyền thông vè ATTP gồm 5 điều, từ Điều 56 đến Điều 60, quy định về mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng tiếp cận, hình thức và trách nhiệm trong thông tin giáo dục truyền thông ATTP
Chương X- Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm gồm 10 điều, từ Điều 31 đến Điều 70, được chia thành 3 mục: Mục 1. Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP; Mục 2. Thanh tra ATTP; Mục 3. Kiểm tra ATTP. Để giải quyết chồng chéo và giảm bớt gánh nặng cho các Bộ trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Luật ATTP đã phân công trách nhiệm QLNN theo nguyên tác từ A đến Z theo các nhóm thực phẩm/ ngành hàng cho 3 Bộ: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT; Bộ Công Thương. Đồng thời quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho UBND các cấp. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nên Bộ Y tế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm khi cần thiết.
Chương XI. Điều khoản thi hành gồm 2 điều, từ Điều 71 đến Điều 72.Các tin khác